Thị trường bất động sản nghỉ dưỡng Việt Nam đang tồn tại một nghịch lý “ngành du lịch ghi nhận những con số bứt phá kỷ lục, thì hạ tầng nghỉ dưỡng lại rơi vào trạng thái ngủ đông kéo dài”. Theo số liệu năm 2025, Việt Nam đã đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế (tăng hơn 20% so với năm trước đó) và 137 triệu lượt khách nội địa, đưa tổng thu từ du lịch vượt mốc 1 triệu tỷ đồng. Với đường bờ biển dài 3.260 km cùng những điểm đến lọt top thế giới như Phú Quốc, Nha Trang, Đà Nẵng, tiềm năng khai thác rất lớn.
Trái ngược diễn biến này, tại các “thủ phủ” du lịch, nhiều dự án sở hữu vị trí đắc địa, được đầu tư quy mô lớn nhưng nhanh chóng rơi vào tình trạng bỏ hoang hoặc hoạt động cầm chừng. Tại Phan Thiết, loạt dự án Aloha Beach Village, Golden Peak Resort, Đồi Sứ Resort, hay Feng Shui Resort dù đã vận hành nhiều năm, công suất khai thác luôn ở mức thấp báo động, không ít khu vực xuống cấp trầm trọng, thậm chí phải ngừng kinh doanh.
Tương tự, trên cung đường ven biển Đất Đỏ – Xuyên Mộc (TP HCM ) từng một thời “dậy sóng”, nay lại trầm lắng với những dự án như Ixora Hồ Tràm, Hyatt Regency, The Sea Class, Edenia Resort hay Charm Resort Hồ Tràm. Nhiều phân khu triển khai rầm rộ trước đó, nay cũng rơi vào cảnh “đắp chiếu”, gây lãng phí nguồn lực đất đai.
Báo cáo từ DKRA Group cho thấy có tới hơn 99% nguồn cung sơ cấp trong năm 2025 thực chất là hàng tồn kho từ các dự án cũ. Tỷ lệ hấp thụ của phân khúc này vẫn duy trì ở mức thấp, khi niềm tin của nhà đầu tư bị xói mòn bởi lợi nhuận cam kết không như mong đợi và tính thanh khoản của thị trường thứ cấp gần như đóng băng.
Theo báo cáo từ Hội Môi giới bất động sản Việt Nam, giai đoạn 2023-2025, giá chuyển nhượng thứ cấp bất động sản nghỉ dưỡng giảm trung bình 15-20%, cá biệt 40-50% nhưng vẫn khó thanh khoản.
Khu nghỉ dưỡng du lịch ở nam đảo Phú Quốc, tháng 12/2025. Ảnh: Thành Nguyễn
Khó khăn của bất động sản nghỉ dưỡng, theo chuyên gia, không nằm ở nhu cầu du lịch suy giảm, tiềm năng khai thác hạn chế mà do thiếu chiến lược vận hành bài bản, chất lượng sản phẩm không đồng bộ và định hướng phát triển sai lệch.
Bà Hương Nguyễn, CEO Eras Land, nhận định cốt lõi dẫn đến thực trạng “chết yểu” của nhiều dự án nghỉ dưỡng bắt nguồn từ việc mang tư duy bán nhà ở đi làm dự án nghỉ dưỡng. Nhiều chủ đầu tư tập trung vào thiết kế, tiến độ và cam kết lợi nhuận để bán hàng, trong khi xem nhẹ khâu vận hành. Khi dự án đi vào hoạt động, công suất thấp, chi phí cao và chất lượng dịch vụ thiếu ổn định khiến dòng tiền không đủ duy trì, đẩy dự án nhanh chóng suy giảm.
Theo bà Hương, vận hành là “điểm mù” lớn nhất của doanh nghiệp nội địa, trong khi việc thuê thương hiệu quốc tế chỉ phù hợp giai đoạn đầu do chi phí cao, dễ bào mòn lợi nhuận trung và dài hạn. Áp lực càng lớn với các dự án bán sản phẩm cho nhà đầu tư thứ cấp rồi nhận lại quyền khai thác, khi đơn vị vận hành phải đồng thời đảm bảo lợi nhuận, chi trả cam kết và duy trì dòng tiền ổn định. Nếu sản phẩm không đạt chuẩn ngay từ đầu, bài toán hiệu quả gần như không có lời giải.
Bên cạnh đó, nhiều dự án phát triển thiếu tính đồng bộ và bản sắc riêng, quy hoạch manh mún, sản phẩm sao chép lẫn nhau, khiến chất lượng không đáp ứng tiêu chuẩn của các kênh phân phối du lịch quốc tế.
Đồng quan điểm, ông Mauro Gasparotti, Giám đốc cấp cao Savills Hotels khu vực Đông Nam Á, cho biết hơn 68% nguồn cung khách sạn – nghỉ dưỡng tại Việt Nam hiện do chủ đầu tư tự vận hành, trong đó không ít dự án chưa được đầu tư tương xứng cho trải nghiệm khách. Trong bối cảnh khách quốc tế có khả năng chi tiêu cao và tầng lớp trung lưu trong nước ngày càng ưu tiên sản phẩm chất lượng, các dự án thiếu khác biệt và vận hành kém đang ngày càng khó duy trì hiệu quả khai thác và chiến lược phát triển dài hạn.
Bàn về hướng phát triển của bất động sản nghỉ dưỡng những năm tới, ông Mauro Gasparotti nhận định cuộc cạnh tranh trên thị trường đang dịch chuyển từ số lượng sang chất lượng. Du lịch Việt Nam phục hồi mạnh nhưng dòng khách không phân bổ đồng đều, chủ yếu tập trung vào các dự án có chất lượng cao, thương hiệu rõ ràng và trải nghiệm khác biệt. Theo ông, trong bối cảnh yêu cầu lưu trú ngày càng khắt khe, những sản phẩm không tái định vị, chuẩn hóa vận hành và đầu tư chiều sâu sẽ tiếp tục gặp khó.
Tổ hợp nghỉ dưỡng và giải trí Cocobay Đà Nẵng. Ảnh: Văn Đông
Cùng quan điểm, ông David Jackson, Tổng giám đốc Avison Young Việt Nam, cho rằng tăng trưởng du lịch và nghỉ dưỡng sẽ nghiêng về phân khúc trung – cao cấp và hạng sang, thay vì mở rộng đại trà. Sự thay đổi trong hành vi của du khách quốc tế khiến các yếu tố chất lượng dịch vụ, trải nghiệm và câu chuyện thương hiệu trở thành tiêu chí then chốt, buộc chủ dự án phải đầu tư bài bản hơn ngay từ khâu thiết kế và định vị sản phẩm.
Ông đánh giá các loại hình nghỉ dưỡng gắn với wellness (kết hợp chăm sóc cả thể chất và tinh thần), retreat (chữa lành), detox (thanh lọc cơ thể) và du lịch chậm được dự báo tăng trưởng mạnh trong thời gian tới, đặc biệt tại các điểm đến ven biển và khu vực sinh thái. Do đó, các đơn vị phát triển dự án có thể lưu tâm đến mô hình này trong tương lai.
Từ góc nhìn chiến lược, bà Hương Nguyễn cho rằng bài toán bền vững của bất động sản nghỉ dưỡng nằm ở sự cân bằng giữa tiêu chuẩn dịch vụ và khả năng kiểm soát chi phí. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào thương hiệu quốc tế, các mô hình vận hành linh hoạt như nhượng quyền hoặc tự vận hành có kiểm soát giúp dự án duy trì chuẩn chất lượng cần thiết, đồng thời nâng cao hiệu quả tài chính dài hạn.
Bên cạnh đó, chất lượng và tính đồng bộ của sản phẩm cần được duy trì xuyên suốt vòng đời dự án thông qua tái đầu tư và làm mới trải nghiệm. Khi được phát triển bài bản và gắn với bản sắc địa phương, bất động sản nghỉ dưỡng không chỉ cải thiện hiệu quả khai thác mà còn góp phần nâng tầm du lịch Việt Nam; ngược lại, tư duy ngắn hạn sẽ khiến thị trường khó tránh khỏi những chu kỳ “bùng lên rồi lụi tàn”.
Phương Uyên
Nguồn bài viết : https://vnexpress.net/vi-sao-nhieu-du-an-bat-dong-san-nghi-duong-chet-yeu-5005052.html











